Nguồn gốc cải lương

Hồi tui còn bé xíu ở quê, sau lưng UBND xã có cái sân khấu nhỏ. Năm nào cũng có một vài gánh cải lương từ trong Nam ra biểu diễn cho bà con coi. Người ta quây khuôn viên xã lại làm thành một khán đài kín mít, cao gần 2 mét để không ai nhòm từ bên ngoài vào được. Lũ con trai nghịch ngợm tụi tui đời nào chịu đứng ngoài, dù có thể vào xem khi đi kèm với người lớn để không mất tiền vé. Tụi tui thường bày trò đào tường khoét vách, dù bị canh chừng nghiêm ngặt  cỡ nào cũng khoét được một cái lỗ nhỏ xíu rồi lần lượt từng đứa chui vào coi ké. Coi không mất tiền mới sướng.

Con nít thì biết cái chi, chỉ ưa cái đông đúc hội hè, rồi nghe người ta vỗ tay cũng hùa theo vỗ tay, thấy bà con ném tiền lên cũng máu nhưng không có xu nào trong túi quần nên thôi.he he

À, mà tui vẫn còn nhớ cái tên của một trong những vở cải lương đã từng coi ké là “Tô Ánh Nguyệt”, trùng hợp là ở gần nhà tui có chú Tô, o Ánh, o Nguyệt, vậy là khi hứng chí cả bọn con nít đồng thanh réo lên: “Bớ, Tô Ánh Nguyệt”, các vị ấy nghe mà tức nổi cả mụn. Nghịch gớm hehe!

Cải lương trong đầu tui là rứa đó bà con à.

***************

Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Longnhạc tế lễ[1].

Giải thích chữ “cải lương” (改良) theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: “cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản.[2]

Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy “có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918”, nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới “bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách…nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ…”[3]

Từ Đờn ca tài tử

Đã đến lúc, theo Vương Hồng Sển, người ta nghe hát bội hoài, hát bội mãi, cũng chán tai thét hóa nhàm[4] thì các ban tài tử đờn ca xuất hiện.

Buổi đầu, khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các nhóm đờn ca được thành lập cốt để tiêu khiển, để phục vụ trong các buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn… nhưng chưa hề biểu diễn trên sân khấu hay trước công chúng.

Và nếu trước kia “cầm” (trong “cầm, kỳ thi, họa”) là của tầng lớp thượng lưu thì đến giai đoạn này nó không còn bị bó buộc trong phạm vi đó nữa, mà đã phổ biến rộng ra ngoài. Chính vì thế nhạc tài tử ở các tỉnh phía Nam, về nội dung lẫn hình thức, dần dà thoát ly khỏi nhạc truyền thống có gốc từ Trung, Bắc.

Nhắc lại giai đoạn này, trong Hồi ký 50 năm mê hát, có đoạn:

Căn cứ theo sách vở thâu thập và những lời của người lớn tuổi nói lại, và nếu tôi (Vương Hồng Sển) không lầm thì buổi sơ khởi của cải lương, là do sự ngẫu nhiên, sự tình cờ, là do lòng ái quốc mà nên.

Tác giả giải thích:

Người miền Nam có cái hay là khi biết dùng bạo lực cải hại thân vào tù, thì họ không dùng bạo lực. Họ cố đè nén lòng thương nước, chôn giấu trong một bề ngoài lêu lổng, chơi bời… Họ (những tài tử) thường tụ họp vừa tập ca cho vui, vừa trau giồi nghệ thuật… rồi mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya… họ cũng hòa đờn, tập dượt ca cho đúng nhịp, để đánh cơn buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp “quan – hôn – tang – tế” (chủ nhà) đều có mời họ cho rôm đám.[4]

Khi ấy, Đàn ca tài tử gồm hai nhóm:

– Nhóm tài tử miền Tây Nam Bộ, như: Bầu An, Lê Tài Khị (Nhạc Khị), Nguyễn Quan Đại (Ba Đợi), Trần Quang Diệm, Tống Hữu Định, Kinh Lịch Qườn, Phạm Đăng Đàn…
– Nhóm tài tử Sài Gòn, như: Nguyễn Liên Phong, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Tùng Bá…

Đến lối Ca ra bộ

Qua lối năm 1910, ông Trần Văn Khải kể:

Ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, người Cái Thia, tục gọi Tư Triều (đờn kìm), Mười Lý (thổi tiêu), Chín Quán (đờn độc huyền), Bảy Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Đắc (ca sĩ). Phần nhiều tài tử nầy được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp. Khi về, họ cho biết rằng Ban tổ chức có cho họ được đờn ca trên sân khấu và được công chúng đến xem đông đảo…[5]

Nghe được cách cho “đờn ca trên sân khấu”, Thầy Hộ, chủ rạp chiếu bóng Casino, ở sau chợ Mỹ Tho, bèn mời ban tài tử Tư Triều, đến trình diễn mỗi tối thứ tư và thứ bảy trên sân khấu, trước khi chiếu bóng, được công chúng hoan nghinh nhiệt liệt.

Trong thời kỳ này, Mỹ Tho là đầu mối xe lửa đi Sài Gòn. Khách ở các tỉnh miền Tây muốn đi Sài Gòn đều phải ghé trạm Mỹ Tho. Trong số khách, có ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ông nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại, như bài “ Bùi Kiệm – Nguyệt Nga”, với một giọng gần như có đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Khi về lại Vĩnh Long, ông liền cho người ca đứng trên bộ ván ngựa và “ca ra bộ”[6]. Ca ra bộ phát sinh từ đó, lối năm 1915 – 1916.

Cũng theo Vương Hồng Sển:

Các điệu ca ra bộ và cải lương sau này đều chịu ảnh hưởng của các buổi hát nhân những kỳ bãi tường do các trường trung học Taberd, Mỹ Tho, trường tỉnh Sóc Trăng…Cho nên chúng ta không nên ơn các nhà tiền bối, phần đông là các giáo sư trường Pháp, đã có sáng kiến dìu dắt và dạy cho ta biết một nghệ thuật hát ca khác với điệu hát bội thời ấy…[7]

Nhà văn Sơn Nam còn cho biết:

Năm 1917, Lương Khắc Ninh, sành về hát bội, đã diễn thuyết tại hội khuyến học Sài Gòn: Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm…(nay) muốn cải lương phải làm sao?…Chuyện nói đây không khó. Có học trò trường Taberd đến lúc phát thưởng, nó ra hát theo Lang Sa (Pháp), bộ tịch như Lang Sa. Rất đổi là hát theo ngoại quốc, trẻ em còn làm được, hà huống người An Nam mà hát An Nam không được sao?…Rồi đoàn ca nhạc kịch bên Pháp mỗi năm sáu tháng đã đến Sài Gòn trình diễn, có màn có cảnh phân minh, mỗi tuồng dứt trọn một đêm. Công chúng người Việt hâm mộ, thấy hợp lý, thêm tranh cảnh gọi Sơn thủy, đẹp mắt.[8]

Và rồi ngay năm này (1917), ông André Thận (Lê Văn Thận) ở Sa Đéc lập gánh hát xiệc, có thêm ít màn ca ra bộ.

Hình thành Cải lương

Photobucket

Từ Anh, Năm Châu, Tư Út, Phùng Há, Ba Liên trong tuồng Khúc Oan Vô Lượng, gánh Trần Đắc (Cần Thơ) diễn trên sân khấu khoảng năm 1931

Qua năm 1918, cũng theo Vương Hồng Sển, năm 1918, bỗng Tây thắng trận ngang (Đệ nhất thế chiến), mừng quá, toàn quyền Albert Sarraut nới tay cho phép phe trí thức bày ra một cuộc hát lấy tiền dâng “mẫu quốc” và cho phép lập hội gánh hát để dân bản xứ lãng quên việc nước, thừa dịp đó dân trong Nam bèn trau giồi nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân khấu…[9]. Nhân cơ hội ấy, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu sự ra đời của loại hình nghệ thuật cải lương.

Đến năm 1920, cái tên “cải lương” xuất hiện lần đầu tiên trên bản hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối:

Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.

Mặc dù Vương Hồng Sển đã nói cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ, nhưng theo sự hiểu của ông thì:

– Năm 1915 trở về trước, tại miền Nam, tài tử còn ca kiểu “độc thoại”.
– Năm 1916, có ca kiểu “đối thoại” (ca ra bộ)
– Đêm 16 tháng 11 năm 1918, tại Rạp Hát Tây Sài Gòn, có diễn tuồng Pháp – Việt nhứt gia (tức Gia Long tẩu quốc) đánh dấu thời kỳ phôi thai của cải lương.

Sau đêm này, André Thận trước và Năm Tú sau, đã đưa cải lương lên sân khấu thiệt thọ. Năm 1922, tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều diễn tại rạp Mỹ Tho rồi lên diễn tại rạp Chợ Lớn và rạp Modern Sài Gòn…lúc này hát cải lương mới thành hình thật sự…[10]

Và diễn biến tiếp theo của cải lương được Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam tóm gọn như sau:

Những năm 1920 – 1930 là thời kì phát triển rực rỡ, nhiều gánh hát ra đời, nổi tiếng nhất là hai gánh Phước Cương Trần Đắc có dàn kịch gồm 3 loại: các tuồng tích của Trung Quốc, loại xã hội và loại phóng tác (như “Tơ vương đến thác”, “Giá trị và danh dự”).

Trong thời kì 1930 – 1934, nghệ thuật cải lương lan truyền ra ngoài Bắc và nhiều nghệ sĩ xuất sắc xuất hiện như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, Năm Châu… Thời kì kinh tế khủng hoảng, nhiều gánh hát tan rã. Dựa vào tâm lí của dân chúng ngả về tôn giáo, các gánh hát đua nhau diễn các tích về Phật, tiên, đi đầu là gánh hát Tân Thịnh.

Từ 1934, xuất hiện phong trào “kiếm hiệp”, đi đầu là gánh Nhạn Trắng và tác giả Mộng Vân người Bạc Liêu. Những vở nổi tiếng: “Chiếc lá vàng”, “Bích Liên vương nữ”, “Bảo Nguyệt Nương”. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay… Nhiều vở diễn mới xuất hiện, nội dung phong phú và đa dạng.[11]

Đặc điểm:

Bố cục

Khởi sự, các vở cải lương viết về các tích xưa, như Trảm Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Cao Lũng vít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ, Thoại Khanh Châu Tuấn…hãy còn giữ mang hơi hướm theo kiểu hát bội, do các soạn giả lớp cải lương đầu tiên vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Sau này, các vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội), như Tội của ai, khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường… thì hoàn toàn theo cách bố cục của kịch nói, nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương, kể cả các vở viết về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói.

Đề tài & cốt truyện

Buổi đầu, kịch bản cải lương lấy cốt truyện của các truyện thơ Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên…hoặc các vở tuồng hát bội, hoặc phỏng theo truyện phim và kịch bản Pháp, như Bằng hữu binh nhung (frères d’arme), Sắc giết người (Atlantide), Giá trị và danh dự (Le Cid), Tơ vương đến thác (La dame au camélias)… Vào những năm 1930, đã xuất hiện những vỡ mới viết về đề tài xã hội Việt Nam như đã kể trên.

Sau đó, lại có thêm các kịch bản dựa vào các truyện cổ Ấn Độ, Ai Cập, La Mã, Nhật Bản, Mông Cổ…Thế là cải lương có đủ loại tuồng ta, tuồng Tàu, tuồng Tây…sau có thêm dạng tuồng kiếm hiệp, tuồng Hồ Quảng v.v…chứng tỏ khả năng phong phú, biết đáp ứng sở thích của nhiều tầng lớp công chúng.

Sự dung nạp không thành kiến của cải lương có thể coi là sự lai tạp, nhưng đây cũng là khía cạnh đặc điểm có tính chất chung đối với văn hóa của vùng đất Nam Bộ.

Ca nhạc

Các loại hình sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch, vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc có sẵn, cốt sao cho phù hợp với các diễn biến cùng sắc thái tình cảm của câu chuyện.

Sân khấu cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ. Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu mà sau này mang tên vọng cổ). Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Hoa nhưng đã Việt Nam hóa. Ngoài trừ bản vọng cổ, dưới đây là một số bài bản được sử dụng khá phổ biến trong các tuồng cải lương:

– Tam nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo (đảo ngũ cung) – Khốc hoàng thiên – Phụng hoàng – Nặng tình xưa – Ngũ điểm – Bài tạ – Sương chiều – Tú Anh – Xang xừ líu – Văn thiên tường (nhất là lớp dựng) – Ngựa ô bắc – Ngựa ô nam – Đoản khúc Lam giang – Phi vân điệp khúc – Vọng kim lang – Kim tiền bản – Duyên kỳ ngộ – U líu u xáng – Trăng thu dạ khúc – Xàng xê v.v… – Và các điệu lý, như: giao duyên, lý con sáo, lý tòng quân, lý cái mơn v.v..

Ngoài ra, khi các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân khấu cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng), Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng)… thì lúc bấy giờ trong một đoàn cải lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu…

Diễn xuất

Diễn viên cải lương diễn xuất như kịch nói. Chỉ khác là diễn viên ca chứ không nói. Cử chỉ điệu bộ phù hợp theo lời ca, chứ không cường điệu như hát bội. Vương Hồng Sển nói: Hát bội tượng trưng nhiều quá và la lối lớn tiếng quá, trái lại cải lương ca rỉ rả cho thêm muồi…[12]

Sau này (khoảng những năm 60), cải lương có pha thêm những cảnh múa, đu bay, diễn võ…cốt chỉ để thêm sinh động…

Y phục, tranh cảnh

Trong các vở diễn về tuồng tích xưa hay lấy cốt truyện ở nước ngoài thì y phục của diễn viên và tranh cảnh trên sân khấu cũng được chọn lựa sao gợi được bối cảnh nơi xảy ra câu chuyện, nhưng cũng chỉ mới có tính ước lệ chứ chưa đúng với hiện thực. Trong các vở về đề tài xã hội, diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời.

Ghi công

Sơ khởi nên kể công ông Tống Hữu Định (tức Phó Mười Hai). Kế đó, người có công gầy dựng và đưa lên sân khấu là ông André Thận. Bên cạnh đó còn có vài người góp sức như: Kinh-lịch Quờn (hay Hườn), Phạm Đăng Đàng…

Ngoài ra còn phải kể đến công của những bầu gánh, soạn giả, nhạc sĩ và các đào kép tài danh thuộc thế hệ đầu, như: Tư Sự (gánh Đồng Bào Nam), Hai Cu (gánh Nam Đồng Ban), Trần Ngọc Viện (gánh Nữ Đồng Ban), Trương Duy Toản, Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), Nguyễn Tri Khương, Trần Văn Chiều (tự Bảy Triều), Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc, Năm Phỉ, Ngọc Xứng, Ngọc Sương, Phùng Há, Tư Sạng, Hai Giỏi, Năm Nở, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nam v.v… Tất cả đã góp phần hình thành và phát triển loại hình nghệ thuật cải lương.

Cũng nên nói thêm, từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành một loại hình nghệ thuật, một bộ môn sân khấu có khả năng thu hút đông đảo khán thính giả. Và do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một nhà báo kỳ cựu, giải Thanh Tâm được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát huy chương và khen thưởng cho những nam nữ nghệ sĩ trẻ có triển vọng nhất trong năm.

Một số vở cải lương nổi tiếng:

Chú thích:

  1. ^ Xem mục từ “Cải lương” trên Bách khoa toàn thư Việt Nam [1]. Lê Văn Hảo trong một bài viết, đã cho biết: Tiếp thu di sản âm nhạc cổ điển và âm nhạc cung đình ở Phú XuânHuế, các nghệ nhân đầu tiên của vùng đất mới đã sáng tạo nên hai dòng nhạc tế lễ và nhạc tài tử Nam Bộ gồm “ba Nam, sáu Bắc, bảy Dài, bốn Oán”. Muốn cho hoàn thiện, phải thêm mười bài Liên Hoàn và tám bài Ngự. Và trên cơ sở nhạc tài tử, nhạc tế lễ và dân ca đồng bằng sông Cửu Long, khởi đầu từ lối “ca ra bộ” khiêm tốn, tài năng của các nghệ nhân nhiều thế hệ – từ nhiều địa phương đam mê nghệ thuật như Bạc Liêu, Trà Vinh qua Bến Tre, Mỹ Tho tới tận Sài Gòn – đã cung cấp cho kho tàng âm nhạc và sân khấu Việt Nam một khúc Vọng cổ và một nghệ thuật Cải Lương… [2]
  2. ^Cải lương…bài của Gs. Trần Văn Khê.
  3. ^Hồi ký 50 năm mê hát, tr. 207)
  4. ^ abHồi ký 50 năm mê hát, tr. 25
  5. ^ Trích Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Thanh Trung thư xã Sài Gòn, không đề năm xuất bản, tr 19-20.
  6. ^ Một trình thức diễn xuất thô sơ. Năm 1918, gánh hát của Đốc phủ Bảy & Đặng Thúc Liêng làm bầu, lựa danh từ “hát bộ” để gọi cho cách diễn mới, khiến về sau có nhiều người lầm lộn nên đã “vừa viết báo vừa hô hào xin dùng chữ hát bộ thay cho danh từ hát bội chính cống (Hồi ký 50 năm mê hát, tr. 38 và 60.)
  7. ^Hồi ký 50 năm mê hát tr. 61
  8. ^Lịch sử An Giang, Nxb TH An Giang, 1988, tr. 183-184.
  9. ^Hồi ký bốn mươi năm mê hát, tr. 28 – 29.
  10. ^Hồi ký bốn mươi năm mê hát tr. 215.
  11. ^ Xem bài “Một Vài Vấn Đề Về Nhạc Cổ Truyền Việt Nam” của GS. Trần Quang Hải tại đây
  12. ^Hồi ký bốn mươi năm mê hát tr. 209
  13. ^ Xem thêm [3]

==============

Đôi điều về tác giả: Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Con trai trưởng của GS Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long . Ông là chuyên gia âm nhạc Á châu, hiện đang sống và làm việc tại Paris.

22 thoughts on “Nguồn gốc cải lương

  1. Lướt qua một số entry của Thuận Phong thì thấy Thuận Phong rất chăm chỉ, tìm tòi những tài liệu quý về một số nội dung mà có lẽ nhiều người ko bao giờ để ý tới, như small chẳng hạn🙂. Vì vậy mà small thấy trân trọng và biết ơn TP về điều này lắm. Bất cứ lúc nào có thời gian, small sẽ cố đọc hết những tài liệu thế này, rất bổ ích TP à!

  2. Nhanh thiệt Phong nhỉ, mới đó mà muốn trèo tường vô xem cải luơng cũng nỏ được nữa. Hồi nớ tụi mình chủ yếu là trèo rào vô xem. Không phải là trốn vé mô mà do nghèo không có tiền mua nên mới rứa. HIII

  3. Trong một nguồn tài liệu nào đó anh Mô quên rồi, nghe người ta nói nguồn gốc cải lương bắt nguồn từ…đám ma😀 Hồi đó khi có người chết, người ta thuê người về hát, đờn cò kéo rền rĩ răng đó, rồi người dân chế ra lối hát cải lương…đại loại rứa
    Anh Mô cũng rất mê cải lương, và cũng rất kỹ khi nghe, chỉ thích nghe những vở trước 75, mặc dù âm thanh không chuẩn như bây giờ, nhưng nghệ sỹ diễn hết mình, giọng ca của họ mùi mẫn lắm, nhất là các nghệ sỹ như Thành Được, Tấn Tài, Út Trà Ôn, Thanh Nga…
    Vở “Tướng cướp Bạch Hải Đường” anh Mô nghe mãi không chán…

    • Đạ lâu rồi em không xem trọn vẹn một vở cải lương. Có lẽ hứng thú đã suy giảm nhiều rồi bác ạ.
      Có lần em mở bản “Tứ đại oán”, hàng xóm mắng em bảo không dưng sao lại mở nhạc… đám ma he he. Đúng là nó kéo nhị y chang như nhạc đám ma😀
      “Tướng cướp Bạch Hải Đường” em có nghe tên nhưng chưa thưởng thức, vở đó dính vào kiện tụng bản quyền rầm rĩ đăng trên tạp chí Thế Giới Mới hơn chục năm về trước đấy bác.

      • Chắc người ta kiện tụng chi chi thôi, còn vở này anh Mô nghe là do các nghệ sỹ Sài Gòn diễn trước 75 kia. Nghe đã lắm😀

        • Em nhớ rồi, người ta kiện tụng kịch bản phim “Tướng cướp Bạch Hải Đường” bác ạ. Phim ấy em coi rồi, không biết kịch bản có phải được chuyển thể từ vở cải lương đó không😀

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s