Xuôi dòng…

Lịch sử là những con sông chở nặng phù sa nhưng chưa chảy ra tận biển. Các thời đại nối tiếp nhau bởi sự xoay vần của bánh xe thời gian. Và suy cho cùng, đó cũng chỉ là sự lặp lại luân phiên của những vở bi kịch và hài kịch. Các định kiến hay là các tư tưởng chính là những hạt phù sa của dòng sông lịch sử, bị cuốn theo dòng và bồi đắp màu mỡ cho những cánh đồng tư tưởng tiếp theo. Cứ như thế, lịch sử chẳng khi nào dừng lại.

***

Thuở đi học, tui chúa ghét môn lịch sử, mỗi tiết học cứ như những giờ tập chép, tay mỏi nhừ. Chép cho đã rồi về cày cho thuộc để mai mốt cô kêu dò bài và đối phó cho các bài kiểm tra. Chán cách học thuộc lòng và chán kiểu truyền đạt máy móc nên tui đâm giận lây môn lịch sử. Mà lịch sử có tội gì cho cam, lịch sử nói chung và lịch sử dân tộc nói riêng cho ta biết về quá khứ, biết về cội nguồn của chính mình…

Nếu những giờ học lịch sử trở nên cuốn hút, sinh động, học trò được đi thăm bảo tàng, được nhìn hay được sờ tận tay hiện vật, xem những đoạn phim tư liệu, nghe những nhân vật lịch sử kể chuyện… thay cho những giờ đọc chép thì tốt biết mấy. Nếu được như vậy, chắc giờ tui cũng sẽ không dốt lịch sử mô hehe.

Khi đọc một số bài viết về lịch sử  triều Nguyễn để bổ túc cho lỗ hổng kiến thức bự chác của mình, tui đã “khám phá” thêm một vài điều thiệt hay ho. Sau đây tui sẽ kể sơ sơ đôi chút:

***

Trong gần 400 năm tồn tại, từ năm 1558 tới năm 1945, nhà Nguyễn (gồm 9 chúa, 13 vua) đã viết nên một giai đoạn lịch sử bằng một thứ mực thấm máu của những cuộc binh đao. Đó là công cuộc chống ngoại bang xâm lược, các cuộc nội chiến giành binh quyền và cả việc tày trời: “rước voi về giày mã tổ”, máu của dân đen đã chảy thành sông thành biển.

Bên cạnh những cột mốc thời gian khô khan, tui đọc thấy vài chi tiết thú vị, có thể kể ra một số sau đây:

Sự hình thành nhà Nguyễn ở Đàng Trong, lấy sông Gianh làm biên giới:

PhotobucketĐược trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm hạ bút viết cho tám chữ: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, Nguyễn Hoàng (tức chúa Tiên) hiểu được ẩn ý đã xin Trịnh Kiểm được vào trấn đất Thuận Hóa. Ở đất Ái Tử (Quảng Trị), Nguyễn Hoàng bắt đầu thu phục nhân tâm, mời hào kiệt bốn phương về dưới trướng. Họ Nguyễn bắt đầu khởi nghiệp và bành trướng ở xứ Đàng Trong từ năm Mậu Ngọ (1558). Tới năm Đinh Mão (1687), Nguyễn Phúc Trân (chúa Nghĩa) mới dời phủ về Phú Xuân (Huế bây giờ) có địa thế bằng phẳng để xây dựng kinh đô sau này.

Quá trình bành trướng của nhà Nguyễn vào Nam:

– 1658, Cao Miên xin thần phục chúa Nguyễn;
– 1680, chúa Nguyễn cho bọn tàn binh nhà Minh khai khẩn hoang địa vùng Đồng Nai;
– 1693, đến Phan Thiết;
– 1698, đến Biên Hoà và Gia Định (Sài Gòn);
– 1708, Mạc Cửu dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn, Mạc được phong làm tổng binh đời đời vĩnh trấn Hà Tiên;
– 1755, Cao Miên quốc vương nhượng đất Tân Bôn và Lôi Lạp cho Võ Vương. Trong Nam, ông Nguyễn Cư Trinh với những kế hoạch khẩn hoang, dinh điền ở miền Nam. Vào cuối thế kỷ XVIII, tại Gia Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, ba người cùng lập thị xã nâng cao đuốc văn hiến một thời.
– 1780, Mạc Thiên Tứ (con Mạc Cửu) mất, không con nối hậu. Từ đây, đất Hà Tiên sát nhập cơ đồ Nguyễn chúa: cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, đến đây đã hoàn thành.
(Trích: Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển, 1960)

Những trang đầu của lịch sử áo dài:

Thế là do tinh thần độc lập, muốn dân chúng trong địa phận mình cai trị mang y phục riêng để phân biệt với miền Bắc, Nguyễn Phúc Khoát hiểu dụ:

“… Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. áo thì từ hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mở, duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được. Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm hoặc vài đen, hay vải trắng tùy nghi. Còn các bức viền cổ và kết lót thì đều theo như điều hiểu dụ năm trước mà chế dùng.”

Như vậy, từ thế kỷ XVIII, chiếc áo dài đã được ra đời, dù ban đầu còn thô sơ, nhưng kín đáo. Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) đã viết những trang lịch sử đầu tiên cho chiếc áo dài duyên dáng.

– Chúa nối ngôi là Nguyễn Phúc Thuần ăn chơi sa đọa và ưa dùng nịnh thần đã mất Đàng Trong vào tay chúa Trịnh (1774), chấm dứt giai đoạn 9 chúa trị vì.

Giai đoạn 13 vua Nguyễn:

– Nguyễn Ánh sau cuộc binh biến đã chạy sang cầu viện Xiêm, Pháp giúp đỡ. Đến năm Tân Dậu (1801) quay trở lại tái chiếm được Phú Xuân. Trong năm này Nguyễn Ánh đã làm một việc kinh thiên động địa: quật mộ vua Quang Trung Nguyễn Huệ để trả thù cũ. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, sau đó đem quân thống nhất Bắc Nam một cõi. Năm 1804, đổi tên nước thành Việt Nam (với sự thống nhất của nhà Thanh).

Tuy nhiên, có thông tin như sau:

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải là tác giả công trình nghiên cứu “Nguồn gốc tên nước Việt Nam”, chứng minh tên “Việt Nam” đã được ông cha ta chọn từ rất lâu trong lịch sử chứ không phải do triều đình phong kiến phương Bắc “ban” cho nước ta.

Như vậy, chưa thể khẳng định chắc chắn rằng tên nước Việt Nam có từ năm 1804!

Rượu Minh Mạng bổ thận tráng dương cho quý ông như thế nào?

Vua Minh Mạng (1791-1841) là con thứ tư của vua Gia Long. Vua Minh Mạng đã xác lập kỷ lục hoành tráng: ngài có tới 142 đứa con (78 hoàng tử và 64 công chúa). Tương truyền ông vua 50 tuổi này hàng ngày uống rượu ngâm một thang thuốc bí truyền nào đó nên mới có khả năng phi thường như vậy. Về sau “thuốc bổ” của vua lưu truyền ra dân gian và được gọi là “Minh Mạng thang”. Loại rượu “một người khỏe hai người vui” ấy giờ vẫn bán phổ biến ở Huế.

Thái hậu Từ Dụ:

Từ Dụ (1810 – 1902) là một thái hậu nổi tiếng trong lịch sử. Bà là vợ vua Thiệu Trị và là mẹ vua Tự Đức. Bà tên thật là Nguyễn Thị Hằng, người Gò Công (Tiền Giang). Trong bài Tượng đài sông Hương: Thái hậu Từ Dũ, Hoàng Phủ Ngọc Tường tả:

Bà là người con gái đất Gò Công, lúc ban đầu vào Huế làm cung nữ hầu vua Thiệu Trị. Nhà vua ngự giá Bắc tuần, nàng theo giúp việc hàn mặc, nổi tiếng thông minh và linh hoạt… Nghe nói bà Từ Dũ còn là người đưa giống cá thát lát từ quê nhà ở Nam Bộ ra gây giống ở thành phố Huế; cá sinh sôi đến ngày nay đầy hồ đầy sông. Ở Huế bà nổi tiếng là một bà thái hậu rất thương dân. Hằng năm đến lễ mừng thăng cấp, mừng thọ của bà, bà đều tìm cách thoái thác hoặc trì hoãn, thực chất là sợ khổ dân…

Hồi ấy người Pháp cho bắc lại cây cầu Trường Tiền bằng sắt và bắt dân phải nộp thêm thuế, nói là lấy kinh phí làm cầu. Bà Từ Dũ tự nguyện thay mặt cho dân viết một lá đơn xin quan Tây miễn thuế…Trước đây, dân Huế có lưu hành bài vè “Bà Từ Dũ xin thuế cho dân”. Nhân đức của bà đã đi vào lòng người là vậy”

Do một sự nhầm lẫn nào đó mà tên hiệu của bà bị gọi chệch đi, đúng ra là “Từ Dụ” chứ không phải “Từ Dũ”. “Từ Dụ” theo nghĩa chữ Hán là “nhân từ” và “độ lượng”.

Bởi những đức tính tốt đẹp nên sau này tên bà được đặt cho một bệnh viện phụ sản lớn ở TP.HCM: Bệnh viện phụ sản Từ Dũ.

Các công trình xây dựng gắn với tên tuổi của Huế:

Dưới thời Thành Thái (1879 – 1954), một số công trình được người Pháp xây dựng: bệnh viện Trung ương Huế, trường Quốc Học, cầu Trường Tiền, chợ Đông Ba,…

Ngay sát bên cạnh trường Quốc Học (được thành lập năm 1896 dành cho nam sinh), tới năm 1917, vua Khải Định cho xây dựng trường Đồng Khánh (trường Hai Bà Trưng ngày nay) dành riêng cho nữ sinh. Mỗi lần tan trường, hàng trăm tà áo dài dịu dàng thướt tha trong gió, đẹp đến nỗi nhà thơ Xuân Tâm người Quảng Nam (lúc đó đang là nam sinh trường Quốc Học hàng xóm) phải thốt lên ngỡ ngàng:

Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành

Trường Hai Bà Trưng hiện nay tuy không còn dành riêng cho nữ sinh, nhưng nữ sinh Đồng Khánh vẫn thuộc diện hoa khôi trong làng nữ sinh các trường trung học TP Huế.

Lễ cúng âm hồn ngày thất thủ kinh đô (23/5/1885)

Nếu ai tới Huế vào dịp 23/5 âm lịch hàng năm hẳn sẽ rất ngạc nhiên khi thấy rất nhiều gia đình đặt một mâm cỗ bàn cúng bái ở ngoài sân và tại các miếu đình. Ngày 23/5 âm lịch hàng năm chính là ngày kị chung cho những oan hồn bơ vơ vất vưởng, không ai hương khói. Nguyên do như thế nào, hãy cùng lật lại những trang sử cũ.

“Ngày 1-8-1883, Pháp nã đại bác vào cửa biển Thuận An. Tối 20-8, Thuận An thất thủ; Triều đình hoang mang lo sợ, chỉ có Tôn Thất Thuyết cương quyết lập trường đánh Pháp. Đêm 04-7-1885, Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc vũ trang chống Pháp. Đánh vào sào huyệt giặc ở Mang Cá và khu Tòa Khâm bên sông Hương. Tôn Thất thuyết bố trí cuộc tấn công rất chu đáo, nhưng vì khí giới kém nên đã thất trận. Quân Pháp chiếm thành, đốt phá, hãm hiếp, giết chóc cướp bóc không từ một ai. Một cuộc chạy loạn hết sức đau thương và bi thảm xảy ra. Hầu như không có gia đình nào lại không có người bỏ mạng trong biến cố này. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là số dân chúng ở trong thành. Ngày 23 tháng 5 âm lịch (5-7-1885) từ đó trở về sau đã biến thành ngày giỗ lớn, ngày “quẩy cơm chung” hằng năm của cả thành phố Huế. Họ cúng cho tất cả những người tử nạn: quân sĩ, dân chúng, quan lại, thợ thầy, chết bởi các nguyên do: hoặc bị dày đạp, chen lấn nhau mà chết, hoặc bị đạn Pháp, hoặc bị ngã xuống thành khi tìm cách leo ra khỏi thành, hoặc sảy chân rơi xuống hồ ao dày đặc trong thành, nhất là hồ Tịnh Tâm v.v… trong khoảng từ 2 giờ đến 4 giờ sáng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu 1885”

“Lô nhô trẻ dìu già, ông dắt cháu, chân còn đi đầu gục lìa vai.
Lao nhỏ con khóc mẹ, vợ kêu chồng, tiếng chưa ngớt xương đã chất đống.
Oan uổng quá mấy ông trên võng, thình lình sét đánh, sống chẳng trọn đời.
Tội tình thay lũ trẻ trong nôi, cắt cớ sao sa, chết đờ trắng bụng.

Trước một trận mưa đen mịt tối, tất thảy người mà tự thảy quỷ, một vùng chôn kẻ cực người sang. Sau ba hồi trống dục loa dồn, biết phận là biết đâu duyên, ba thước lấp anh hay chú vụng
(Trích: Văn tế cô hồn 23.5 – Phan Bội Châu)

***

Ngày 25/8/1945, ngay tại kinh thành Huế, đại diện Việt Minh đã tiếp nhận ngọc ấn thoái vị của vua Bảo Đại, ông hoàng cuối cùng chính thức trở lại với tên cũ: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Tới đây chấm dứt thời đại quân chủ của Việt Nam.

Đọc lại mấy dòng sử cũ, nhìn lại quá khứ bốn thế kỷ của nền quân chủ cuối cùng, tui thấy một vài chi tiết thú vị như vậy. Tất nhiên là chỉ điểm xuyết chứ không thể kể hết ra trong phạm vi mấy dòng trên. Nhìn nhận một cách khách quan, thấy rằng: nhà Nguyễn công và tội đều không ít. Nhà Nguyễn đã thu phục Nam kỳ lục tỉnh nhưng cũng chính sự nhu nhược yếu đuối, họ đã hai tay dâng cho thực dân Pháp…

Tui tự đặt câu hỏi: Nếu như ngày xưa Quang Trung Nguyễn Huệ không lâm trọng bệnh mà mất sớm, thì Việt Nam ta ngày nay sẽ ra sao?

***

Phú Xuân xưa và Huế ngày nay đã chứng kiến không ít biến cố lịch sử thăng trầm. Điều đó ít nhiều đã ảnh hưởng tới cốt cách và tinh thần của người Huế. Xin trích dẫn câu nói của thi sĩ Pháp – Pujarniscle để kết thúc bài viết này: “Huế – thành phố mỉm cười khi thương đau, thở than khi vui vẻ”

40 thoughts on “Xuôi dòng…

  1. Po chơi được lắm😀
    Nhưng cái đoạn “Chúa nối ngôi là Nguyễn Phúc Thuần ăn chơi sa đọa và ưa dùng nịnh thần đã mất Đàng Trong vào tay chúa Trịnh (1774), chấm dứt giai đoạn 9 chúa trị vì” anh thấy hơi ngờ ngợ.

    • Nói chung, theo sách vở thì sự tình phức tạp hơn nhiều bác Cua ạ. Em chỉ tom tóm lại cho nó gọn thế thôi!😀
      Bác ngờ ngợ là ngợ như thế nào chớ!

      • Anh ngờ ngợ vì “theo sách vở thì sự tình phức tạp hơn nhiều”, nhất là sử VN đã bị gia công chế biến nhiều quá, thật giả nhiều khi không biết đường nào mà lần …

        • Cái đó thì em bó tay bác ạ.
          Nói chuyện dữ liệu cũ thì em biết được một thông tin là: TQ đang lưu trữ dữ liệu về VN gấp 14 lần VN đang lưu trữ, dữ liệu của Pháp về VN cũng gấp 4 lần VN đang lưu trữ.
          Vậy phải sao đây?

  2. Hồi đi học anh Mô rất mê lịch sử, chừ cũng vậy. Cho nên sử nước nhà từ 45 lại nay anh Mô có thể khái quát được từng giai đoạn kể cả bên “ta” lẫn bên “địch”. Cũng nhờ vậy mà mặc dù LS phần nào bị bóp méo, thậm chí xuyên tạc nhưng anh Mô vẫn nhìn nhận một cách tương đối khách quan và toàn diện. Vì thế “các lực lượng thù địch” không thể “diễn biến” anh Mô được😀

    • Voltare đã viết: “Lịch sử là gì? Sự dối trá mà tất cả mọi người đều đồng ý…”
      Như rứa, học sử cần có một cái nhìn toàn diện chớ không phải một chiều, phiến diện bác Mô hè!😀

    • Sử mà không phải sử, đó là sử. Phải không Út. Anh không thích những cột mốc khô khan ai thắng ai thua, cái anh tìm hiểu là những nét văn hóa gắn liền với giai đoạn lịch sử đó thôi. hi hi

  3. Tớ cũng ghét môn Sử. ha ha, toàn dân lười học như nhau nhỉ? Po viết được bài giới thiệu về Huế độc đắc thế còn gì? mà lão Po ở chỗ mô của Huế thế? bữa nào đi cà phê với Chíp trần và hương bưởi nhỉ? he he🙂

    • He he, té ra có nhiều kẻ ghét môn Sử rứa hè. Nhưng giờ miềng lại thích mới lạ chớ.
      Nhà miềng ở Dừa, phía bên kia cửa biển Thuận An, cách TT Huế chừng 15km về phía đông bắc, còn miềng đang làm việc cách Huế 70km về phía bắc. Rứa đó Chip, khi mô vô Huế alo cà phê hè!

  4. Tui tự đặt câu hỏi: Nếu như ngày xưa Quang Trung Nguyễn Huệ không lâm trọng bệnh mà mất sớm, thì Việt Nam ta ngày nay sẽ ra sao?
    * * *
    Tui xin trả lời: Thì nước Việt Nam ta đã thành một tỉnh của Trung Hoa. Bởi vì thuở sinh tiền, Quang Trung đã lập kế hoạch chinh phục giang sơn Đại Thanh, nếu kế hoạch ấy mà thành thì ngài sẽ làm hoàng đế của cả Trung Hoa. Khốn nỗi khi đấy thì sức mạnh đồng hóa của Trung Hoa không chóng thì chầy sẽ biến người Việt thành người Tàu, cứ xem các nhà Kim (tộc Mãn) thì biết, chiếm xong Trung Hoa thì người Kim mất gốc luôn…
    He he, là mình chọc giận Phong nên đùa thế thôi. Ý mình là khi bàn về lịch sử mà đặt cái giả thiết nào đấy, dù lô-gích đến đâu, cũng là một kiểu… lý sự gàn. Bạn có quyền đặt giả thiết thế này thì người khác cũng có quyền đặt giả thiết theo hướng khác, cứ thế mà ba lan không cùng. Không thể đi ngược dòng thời gian để sửa lại những chỗ lịch sử không như ý mình thì “nếu” làm gì?
    Móc Phong một cú giò lái chơi đỡ buồn, Ly dzọt đê😀

    • He he, bác Ly lý giải rất hay ho. Theo em cũng chưa chắc lắm đâu bác, “một ngàn năm đô hộ” còn chưa xi nhê thì lấy cỡ gì mà đồng hóa được chớ.
      Em không nghĩ theo hướng bác, theo hướng em nghĩ là nếu ngài thọ thọ một chút, liệu VN ta có phát triển “KTTT theo định hướng XHCN” không nhỉ? Vụ này căng à nha!
      Hình như là miềng đang bẻ cong lịch sử thì phải hehe

  5. Bây giờ trên truyền hình toàn chiếu những bộ phim nhạt nhẽo nhàm chán hoặc hài hước vô duyên , lịch sử VN có bề dày như thế sao không dựng phim nhỉ , bởi đó là cách tốt nhất cho người Việt hiểu về lịch sử Nước mình .Nhưng nếu có dựng phim thì lại “hư cấu”, nên khó mà chính xác. Phải không Po

    • Hi hi, lâu rồi cháu không xem phim trên VTV, chỉ xem chương trình thời sự và thể thao thôi. Hết phim mì ăn liền tới phim Tàu, phim Hàn, cháu nỏ muốn coi.
      Lịch sử Việt có bề dày đáng kể nhưng những cứ liệu lịch sử, chúng ta lưu trữ được rất hạn chế (vụ này phải hỏi anh Tàu, anh Pháp) vì thế làm phim cổ trang thì… chán lắm cô ạ!😀
      (Cháu không biết dùng từ gì ngoài từ chán cả hi hi)

  6. Chú có một đôi chỗ nhầm lẫn. Đầu tiên là đoạn trích “Lô nhô trẻ dìu già, ông dắt cháu, chân còn đi đầu gục lìa vai” mà chú đề trích từ “Văn tế âm hồn thất thủ kinh đô” là không phải mà thực ra nó nằm trong bài “Văn tế cô hồn ngày 23.5” của cụ Phan Bội Châu. Còn “Văn tế âm hồn thất thủ kinh đô” là một bài văn tế rất hay khác của t/g Nguyễn Phúc Vĩnh Ba – một người rất quen và rất thân của anh với chú tự cái ngày còn ở bên Y!Plus…

  7. lịch sử mình hay nhưng dựng phim thì là chuyện khác vì liên quan đến các tính này tính kia..mà lịch sử có trung thực không hay lại theo định hướng này nọ mất cả vui

  8. Khà khà, đọc cái đoạn chú giải thích Từ Dũ với Từ Dụ, chẳng biết đúng sai thế nào nhưng anh lại nhớ đu đủ với hột vịt lộn. Nhớ lun tun thế chứ lị😀

  9. Qua nhà cua dong@, tôi mới biết đến trang của Po. Tôi cũng khoái cái món Lịch sử này lắm. Nhất là đọc về thời kỳ vẻ vang của Giai đoạn lịch sử có 9 Chúa và một vài vị vua triều Nguyễn. [ tôi nói ” một vài “]
    Đất nước Việt nam ta có được hình hài đẹp như ngày hôm nay, trải dài từ Mũi Ngọc, Móng cái đến bờ biển Hà tiên là đóng góp rất lớn của các vị Chúa từ Nguyễn Hoàng.
    Sau nhiều năm nghiên cứu và lựa chọn, Hà nội đã có một con đường mang tên một vị vua triều Nguyễn là Hàm Nghi. Mình nghĩ đó cũng là một sự đổi mới trong cách đánh giá công lao nhà Nguyễn. Tuy nhiên ngần đó vẫn chưa đủ. Chúa Tiên, chúa Sãi, chúa Hiền……cũng đáng được con cháu nước Việt ghi công lắm đấy chứ.
    Chào bạn.

    • Bác Văn Thành Nhân thân mến, nước Việt ta có hình chữ S như hôm nay, công lao của vua tôi nhà Nguyễn đúng là không nhỏ. Cũng là một lẽ thường tình là chế độ cai trị nào cũng muốn có một quyền lực tuyệt đối, và tư tưởng bành trướng lãnh thổ không lúc nào dừng.
      Trở lại vấn đề, xét về công – tội của nhà Nguyễn thì hiện nay, giới học thuật đang cãi lộn với nhau chí chóe đấy bác ạ, và chỉ dựa vào nguồn dữ liệu lưu trữ không còn nhiều (bị hủy hoại phần lớn trong chiến tranh, một số đang vất vưởng đâu đó trong các bảo tàng ở trời tây), em nghĩ rằng khó có một nghiên cứu đầy đủ để giải quyết triệt để những vấn đề đang gây tranh cãi trên.
      Và trong lúc… chờ đợi. Huế cũng chỉ có 2 con đường mang tên các vị vua triều Nguyễn có tư tưởng kháng Pháp là: Hàm Nghi và Duy Tân.
      Cảm ơn bác đã chia sẻ!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s