Năm mới tặng sách mới!

Món quà này xin dành tặng cho những ai không có điều kiện mua sách gốc (bản cứng và bản mềm) từ nước ngoài. Sách rất đáng đọc và suy ngẫm trong những ngày đầu năm như thế này…

BTC-1

Download: bản .prc và .pdf

Nhân tiện, nếu bạn quan tâm tới VN giai đoạn trước 1975 thì hãy đọc thêm cuốn này, download tại đây. Cũng là một cuốn hay không kém!

Yêu kiểu Murakami :)

Mùa xuân năm hai mươi hai tuổi, Sumire yêu lần đầu tiên trong đời. Một tình yêu mãnh liệt, một cơn lốc xoáy thực sự quét qua các bình nguyên – san phẳng tất cả những gì nó gặp trên đường, tung mọi thứ lên trời, xé chúng ra từng mảnh, nghiền nát thành từng miếng. Cơn lốc không hề giảm cường độ khi băng qua đại dương, biến Ăngko Vat thành đống hoang tàn, thiêu cháy rừng già Ấn Độ với hổ báo và muôn loài, rồi biến thành cơn bão cát sa mạc vùng vịnh Ba Tư, chôn vùi cả một thành phố pháo đài kỳ lạ dưới biển cát. Tóm lại, đó là một tình yêu thực sự vĩ đại…

Đố bạn biết đoạn trích trên nằm trong cuốn nào?

Chuyện về Sokrates

Một vài chuyện kể về Sokrates trích trong tập “Sự tầm thường nổi tiếng“. Chút triết lý hài hước để thư giãn và cũng để hạ nhiệt sau những ngày nóng Tiên Lãng!

***

Phương pháp tối ưu 

Học trò hỏi Sokrates:
– Thầy có biết bằng phương pháp tối ưu nào để thoát khỏi cảnh túng thiếu không?
Sokrates:
– Có! Đó là không nhận nhiều hơn cái mình cần và hãy chi tiêu ít hơn cái mình có!

***

Nhìn lại lần thứ hai
 
Học trò hỏi thầy:
– Thầy có biết cách nào để lảng tránh tình yêu từ cái nhìn cháy bỏng đắm đuối đầu tiên không ạ?
– Có. Phải chú ý nhìn lại lần thứ hai.
Học trò lại hỏi:
– Thưa thầy. Có những chuyện gì mà đôi lúc là thật nhưng hình như luôn luôn là chuyện bịa?
– Đấy là những chuyện kể của những ông lão về sức mạnh dũng sĩ thời trai trẻ của mình và chuyện kể của người nghèo khó về ngày họ là những người giàu.

***

Chân lý không lẩn tránh

Có lần, trong lúc tranh luận gay gắt về các vấn đề triết học, nhà hiền triết cổ Hy Lạp là Sokrates bỗng ngừng tranh cãi và nói rằng, ông phải mau mau ra chợ vì thuyền chài mới cập bến, chắc có nhiều cá tươi.
– A ha ! – Tay đối thủ của Sokrates đắc chí kêu lên – Ông bỏ cuộc là ông chịu thua rồi nhé!
– Không, tôi không nghĩ như vậy – Sokrates điềm nhiên trả lời – Chân lý không lẩn tránh đi đâu cả. Nếu tôi tiếp tục mất thì giờ tranh cãi với ông thì tôi có thể bị nguy cơ là bữa trưa nay không có cá tươi ăn!

***

Không bao giờ sai cả!
 
Nhà bác học Sokrates nói với đám môn đệ của mình :
– Thầy và vợ thầy là những nhà khí tượng tài ba nhất. Những dự báo của thầy và cô không bao giờ sai cả.
Học trò hoài nghi:
– Đề nghị thầy giải thích và cho ví dụ ạ?
Sokrates giảng :
– Thì đây: lúc nào trời đầy mây u ám, thầy nói “Mưa sẽ đến”, còn vợ thầy thì nói “Không có mưa”. Như thế, dĩ nhiên một trong hai người luôn luôn đúng. Do đó, dự báo thời tiết của chúng tôi chẳng bao giờ sai cả !.

(Trích Sự tầm thường nổi tiếng)

 

Sách cát

Ở SG lâu ngày. Đôi khi khùng khùng muốn có cảm giác nhích cái kim đồng hồ xe máy vọt qua con số 60km/h, vậy mà cũng khó kiếm ra đường đi. Nếu muốn chỉ còn cách vọt về đại lộ Đông Tây hoặc vi vu theo tuyến quốc lộ 1A ở rìa thành phố. Chạy với tốc độ ấy, cái lù đù vẫn bám riết trên người bỗng chốc sẽ bị cuốn bay theo lớp bụi đường. Đã!

Lưu ý, khéo nhầm, cái tiêu đề truyện ngắn này là “Sách cát” chớ không phải là “Đất cát” ỉu xìu đâu nhé. Truyện này được trích trong tập truyện ngắn và cực ngắn của Jorge Luis Borges, một cây bút kinh điển của thế kỷ XX, và là đồng hương với Maradona!!

*****

Sách Cát

Phạm Văn dịch

Đường thẳng bao gồm vô số điểm; mặt phẳng gồm vô số đường thẳng; không gian gồm vô số mặt phẳng; đa không gian gồm vô số không gian… Không, geometrico dứt khoát không phải là cách hay nhất để bắt đầu câu chuyện của tôi. Ngày nay ai lại chẳng cam đoan rằng mọi chuyện hoang đường là chuyện thật; nhưng chuyện của tôi đúng là thật.
Photobucket

Tôi sống một mình trong căn chung cư lầu năm ở đường Belgrano. Một tối mấy tháng trước, tôi nghe tiếng gõ cửa. Tôi mở ra, một người lạ bước vào. Ông cao lớn, vóc dáng mơ hồ không rõ, hay có lẽ vì cận thị mà tôi thấy ông như thế. Ông nghèo thấy rõ: ông mặc bộ đồ xám, xách va li xám. Tôi đoán ngay ông là người ngoại quốc. Thoạt đầu tôi nghĩ đó là một ông già, nhưng nhận ra mình lầm vì mớ tóc thưa của ông, vàng, gần trắng, như tóc người Scandinavia. Lúc nói chuyện, chắc chả lâu hơn một tiếng, tôi biết ông từ Orkneys tới.

Tôi chỉ cái ghế cho ông. Ông đợi một lát rồi mới nói. Ông toát lên một vẻ u sầu, như tôi lúc này. Cuối cùng ông nói:

– Tôi bán Thánh Kinh.

Tiếp tục đọc

Tri ân chó!

SG đầu năm mới. Bà con được nghỉ ngơi 2 ngày xả láng. Đường sá tấp nập, hàng quán nhộn nhịp. Hàng sale off tràn lan từ vỉa hè xuống lòng đường. Mọi người tranh thủ mua mua sắm sắm, ì èo trả giá…

Vừa đọc được một bài viết rất cảm động. Đây là bài diễn văn của luật sư Georger Graham Vest tại một phiên toà kiện người hàng xóm làm chết con chó tên là Old Drum của thân chủ ông vào năm 1870. Bài này được phóng viên Wiliam Safire của Báo The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các bài diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 1000 năm qua. Mời bà con cùng đọc!

 *****

“Thưa quý hội thẩm,

– Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể có một ngày nào đó hoá ra kẻ thù quay ra chống lại ta.

– Con cái mà ta nuôi dưỡng thương yêu hết mực rồi có thể là một lũ vô ơn.

– Những người gần gũi, thân thiết ta nhất, những người gởi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành.

– Tiền bạc mà con người có rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất.

– Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại một giờ.

– Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta lỡ vận.

Duy có một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay trắc trở, đó là con chó của ta.

– Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quí cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau.

– Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày.

– Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù gió đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết vùi miễn sao được kề cận bên chủ là được.

– Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó.

– Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi va chạm với cuộc đời tàn bạo này.

Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt vẫn còn con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận đá ta ra rìa xã hội, không bạn bè, vô gia cư thì con chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được là kẻ bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù.

Và một khi trò đời hạ màn, thần chết đến rước linh hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, khi tất cả thân bằng quyết thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, thì khi ấy vẫn còn bên nấm mồ ta con chó cao thượng của ta nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã chết rồi”

Kết quả: Vest thắng vụ kiện, nghe đâu được bồi thường $500. Và tượng một con chó được dựng lên trước cổng tòa án hạt Johnson, Warrensburg, bang Missour

PhotobucketBức tượng chú chó Hachiko trung thành (Nhật Bản)

Kẻ đi tìm.

Xin giới thiệu với bà con một đoạn trích trong cuốn sách Po được ba chị: chị Phay Van, chị Trịnh Hâm và chị Minh Trang tặng, nhân ngày lãnh nhận bí tích rửa tội.

******

Kẻ đi tìm – Nguyễn Tầm Thường

“Con chồn nghển đầu, cố nhìn qua hàng rào. Mùi hương của mật nho chín trong vườn làm nó chảy rãi. Qua cái lỗ nhỏ chân tường, nó chúi đầu chui vào. Mùi mật của vườn nho làm nó càng tham, sân, si. Lầm lũi, ngày ngày nó đến ướm mình vào lỗ chui ở chân tường. Không chui nổi. Nó nhịn ăn cho đến một ngày đủ gầy để lách qua, chui vào vườn nho. Một ngày hân hoan. Nó tưởng như thiên đàng bất tận. Mùa nho sai chín. Nó say sưa ăn uống cho thỏa mãn dục vọng, cho đã những ngày thèm khát chờ mong.
Photobucket
Bất chợt ngày kia có tiếng động rất lạ. Mùa gặt đến. Các tá điền bắt đầu theo chủ đi hái nho. Cái bất tận của thiên đàng không còn nữa. Mỗi ngày tá điền các đến gần khu vườn nho nó đang náu thân. Ánh trăng không còn an bình. Đêm về nó nơm nớp lo âu. Liệu ngày mai nhóm tá điền đến khu an toàn nó náu thân chưa? Bây giờ hương thơm của mùi mật trở thành chán ngấy. Mỗi ngày đám tá điền ồn ào gậy gộc đến gần chỗ nó ẩn náu. Nó trở về góc tường ngày xưa. Tìm về lỗ chân tường ngày xưa chui vào. Than ôi, cái béo phì không đẩy được thân xác ra nữa. Ai sẽ cứu nó? Cái bừng tỉnh của nó, bây giờ làm sao thoát thân?

Có những thèm muốn đưa đời đến dang dở. Có ước mơ ôm vào là rơi vào những tham, sân, si, khổ lụy. Chỉ còn con đường hạnh phúc là tìm cách chui qua lỗ chân tường. Trở về kinh nghiệm ngày xưa. Ngày đó nó nhịn ăn cho ốm người để chui vào. Bây giờ nó lại nhịn ăn để chui ra.

Nó nhất quyết nhịn ăn.

Gầy ốm dần, tiêu đi cái bụng chềnh lềnh, một hoàng hôn nọ, nó lách được qua lỗ hổng chân tường, biến ra ngoài. Hú hồn, nó chạy thẳng cẳng, thoát chết.
Một đêm trăng vắng yên lặng, nó ngồi nhìn ánh trăng mênh mông. Trong bóng đêm vằng vặc, con chồn nhìn lại đời nó, nó nói với đời:
– Tất cả chỉ có thế. Cái khổ lụy như mồi chài bắt bóng.

Thoái chết chui được ra ngoài. Bây giờ nó mới thấy được cái hương mật của mùa nho không là hạnh phúc. Ngồi một mình trên tảng đá cao. Đêm trăng êm đềm đổ xuống cánh đồng. Nó nhìn bóng nó in trên nền cỏ thinh vắng, hướng về vườn nho. Vườn nho vẫn nhẹ nhàng tỏa hương thơm mặn mà. Nó nói với đời:
– Tất cả chỉ có thế. Boăn khoăn khốn khổ vì hương thơm và rồi khốn khổ để thoát khỏi mùi hương.

Những ngày ăn uống thỏa thuê trong vườn nho, nó tưởng là bất tận. Nó thấm thía về những ước mơ. Tại sao ngày nào mùi mật là thèm muốn mà hôm nay là chán bứa. Tại sao ngày nào hương thơm là khoái lạc mà hôm nay là ghê tởm. Nó ngồi trên ghềnh đá, nhìn về khu vườn mà kinh hoàng. Nó hiểu thấm thía, mùi hương không thay đổi. Mùi mật không biến thể. Tùy cõi lòng mà nó thấy thèm muốn hay chán bứa. Tùy tâm đạo mà miếng ăn là sự sống hay cõi chết. Nó nói với bóng nó mà như nói với đời:
– Hạnh phúc không phải là thỏa mãn nhu cầu. No thỏa của tâm trí khác với no thỏa của thân xác. No thỏa của thân xác là một ồn ào réo gọi. No thỏa của tâm linh là một êm đềm chọn lựa. Sung mãn của tâm hồn là một chọn lựa riêng tư. Sung mãn của thân xác là một xô đẩy của đám đông.

Hôm nay, người ta khó nhìn thấy cái riêng tư của tâm hồn, vì ồn ào của đám đông quá rực rỡ. Những ngày trong vườn nho, tôi chỉ ăn và no say. Tôi mất ánh trăng. Tôi chụm mình vào trong mật, tôi mất lối mòn thong thả ngoài cánh rừng. Cuộc đời không oan trái, oan trái là lòng mình. Ai trong mình cũng có một năng lực khổng lồ. Tôi nhịn đói để chui mình vào được. Tôi cũng có thể nhịn đói để thoát thân. Năng lực, khả năng đó là ép thân xác mình. Cùng một năng lực ép xá nhưng một lần là đưa đời vào cõi chết, một lần là đi tìm tự do.

Bởi thế, khôn ngoan và khờ dại không hệ tại cạm bẫy của đời mà là tự mình nhìn đời thế nào. Đừng trách cứ cuộc đời.

Nó hiểu thế nào là đường hẹp. Nó lững thững bước theo lối mòn trở về rừng. Nó hiểu con đường hạnh phúc của nó là những con đường mòn…”

Nếu mọi người đều là kẻ trộm…!

Thật hiếm khi đọc được một truyện ngắn có cốt truyện độc đáo và sự liên tưởng thú vị như Con Cừu Đen (Italo Calvino, bản dịch: Hoàng Ngọc  Tuấn)

PhotobucketItalo Calvino (1923 – 1985) hoàn tất truyện trên đây vào ngày 30/07/1944 lúc ông mới được 21 tuổi – và chưa bao giờ xuất bản. Mãi đến năm 1993, vợ ông, Esther Calvino, mới cho phép xuất bản lần đầu trong tập truyện Prima che tu dica ‘Pronto’ (Milano: Arnoldo Mondadori Editore, 1993)

*****

*

Ở một xứ nọ, mọi người đều là kẻ trộm.

Ban đêm, mọi người đều rời nhà với chùm chìa khoá cùng chiếc đèn lồng có vải che, và đến nhà một người láng giềng để ăn trộm. Họ trở về lúc rạng đông, với nhiều của cải, và thấy nhà của chính họ đã bị mất trộm.

Vì thế, mọi người vui vẻ sống với nhau, và chẳng ai thiệt thòi gì, bởi kẻ này ăn trộm của kẻ khác, kẻ khác lại ăn trộm của kẻ khác nữa, và cứ tiếp tục như thế đến khi kẻ cuối cùng ăn trộm của kẻ đầu tiên. Việc mua bán ở xứ ấy tất nhiên là việc người mua và kẻ bán lường gạt nhau. Chính phủ là một tổ chức tội phạm chuyên ăn trộm của nhân dân, và nhân dân chỉ chăm lo ăn trộm của chính phủ. Do đó, cuộc sống rất thoải mái, chẳng có ai giàu và chẳng có ai nghèo.

Một ngày nọ, chẳng biết vì sao một người đàn ông trong sạch lại đến sống ở xứ ấy. Ban đêm, thay vì ra đi với bao tải và chiếc đèn lồng, anh ta ở nhà hút thuốc lá và đọc tiểu thuyết.
Kẻ trộm đến, thấy đèn sáng, nên không vào nhà.

Tình trạng này diễn ra trong một thời gian ngắn, và mọi người buộc lòng phải giải thích cho anh ta hiểu rằng ngay cả nếu anh muốn sống mà không làm việc thì cũng không có lý do gì anh lại ngăn cản những người khác làm việc. Mỗi đêm anh ở nhà nghĩa là ngày hôm sau một gia đình nào đó chẳng có cái gì để ăn.

Người đàn ông trong sạch khó lòng phản đối lý lẽ đó. Ban đêm, anh ta ra đi và sáng hôm sau anh ta về nhà giống như họ, nhưng anh ta không ăn trộm. Anh ta trong sạch, và bạn không thể làm gì khác để thay đổi bản tính ấy. Anh ta đi đến tận cây cầu và đứng nhìn nước trôi bên dưới. Khi về nhà, anh ta thấy mình đã bị mất trộm.

Chưa đến một tuần lễ, người đàn ông trong sạch không còn một xu dính túi, không còn gì để ăn và căn nhà trống rỗng. Nhưng đó chẳng phải là vấn đề, vì đó là lỗi của chính anh ta; không, vấn đề là thái độ của anh ta đã làm mọi sự đảo lộn. Bởi anh ta để những kẻ khác ăn trộm tất cả của cải của anh ta, mà anh ta lại không ăn trộm của ai cả, cho nên luôn luôn có kẻ về nhà vào lúc rạng đông và thấy nhà mình còn nguyên vẹn: đáng lẽ anh ta phải ăn trộm nhà ấy. Rốt cuộc, sau một thời gian ngắn, những kẻ không bị mất trộm thấy mình giàu có hơn người khác và không còn muốn đi ăn trộm. Tệ hại hơn nữa, những kẻ đến nhà của người đàn ông trong sạch để ăn trộm thấy nhà luôn luôn trống rỗng, do đó họ trở thành nghèo đói.

Trong lúc ấy, những kẻ đã trở nên giàu có lại nhiễm cái thói quen của người đàn ông trong sạch là đi đến cây cầu vào mỗi đêm để nhìn nước trôi bên dưới. Điều này làm sự rối loạn càng tăng thêm, bởi nó khiến cho nhiều kẻ khác trở nên giàu có và nhiều kẻ khác trở nên nghèo đói.

Thế rồi, những kẻ giàu có nhận ra rằng nếu đêm nào họ cũng đến cầu ngắm nước chảy thì chẳng mấy chốc họ lại trở nên nghèo. Và họ nghĩ: “Hãy trả lương để những đứa nghèo đi ăn trộm cho mình”. Rồi họ viết hợp đồng, quy định mức lương, tính huê hồng theo phần trăm: tất nhiên họ vẫn còn là những kẻ trộm, và họ vẫn muốn lừa đảo kẻ khác. Và điều phải xảy ra là kẻ giàu càng giàu thêm và kẻ nghèo càng nghèo thêm.

Một số kẻ giàu trở nên quá sức giàu đến mức họ thấy không cần ăn trộm hay thuê những kẻ khác ăn trộm cho mình để mình được tiếp tục giàu nữa. Nhưng nếu họ thôi ăn trộm, họ sẽ trở nên nghèo, bởi những kẻ nghèo ăn trộm của họ. Vì thế, họ trả lương để những kẻ nghèo nhất trong đám nghèo canh giữ của cải của họ khỏi bị bọn nghèo lấy trộm, và qua đó họ hình thành lực lượng công an và xây dựng những nhà tù.

Nói tóm lại, chỉ trong vòng vài năm sau khi người đàn ông trong sạch xuất hiện, người ta không còn nói đến chuyện ăn trộm và mất trộm, mà nói đến chuyện kẻ giàu và người nghèo; nhưng họ vẫn còn là những kẻ trộm.

Con người trong sạch duy nhất chính là con người lúc đầu ấy, nhưng anh ta đã chết từ sớm, vì đói.